MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO DI TÍCH Ở KHU DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT ATK ĐỊNH HÓA

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954), huyện Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) và huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) thuộc vùng trung tâm an toàn khu Trung ương (ATK). Theo Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, thì ATK Định Hóa “là ATK tuyệt mật”, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bí thư Trường Chinh và nhiều cơ quan đầu não kháng chiến, nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Quân đội, các đoàn thể đã ở, làm việc trong nhiều tháng, năm. Tại ATK Định Hóa, Chỉ tịch Hồ Chí Minh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng ( từ 1951, đổi là Bộ Chính trị BCH TW) đã có những chủ trương, quyết sách quan trọng, lãnh đạo toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Ngày nay, khu di tích ATK Định Hóa đã được Chính phủ quyết định xếp hạng là khu di tích Quốc gia đặc biệt, nhiều di tích đã được nhà nước đầu tư phục hồi, tôn tạo, cơ sở hạ tầng vùng ATK được xây dựng, nâng cấp. Chính nhờ sự quan tâm đầu tư này mà bộ mặt vùng ATK Định Hóa đã có sự đổi thay sâu săc, và khu di tích ATK Định Hóa không chỉ còn là điểm đến của người dân Thái Nguyên mà còn trở thành nơi thu hút đông đảo bà con trong nước và bạn bè quốc tế.

Theo phân công của Ban tổ chức Hội thảo, với trách nhiệm của một người nghiên cứu lịch sử, nhiều năm công tác trong ngành Văn hóa Thái Nguyên, đã nhiều lần tham gia điền dã, khảo sát, dây dựng đề án, dự án bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến ATK Định Hóa, tôi xin được góp vài suy nghĩ bảo tồn, tôn tạo di tích Chỉ tịch Hồ Chí Minh nói riêng và các di tích lịch sử cách mạng kháng chiến ở khu di tích ATK Định Hóa nói chung.

1.     Về công tác bảo tồn, tôn tạo di tích.

Có thể khẳng định rằng, việc nhà nước đầu tư những nguồn kinh phí lớn cho việc phục hồi, tôn tạo các di tích ở ATK trong gần 2 thập kỷ qua đã giúp cho khu di tích này có được diện mạo, vị trí như ngày nay. Từ chỗ các địa điểm di tích chỉ còn là rừng cây, bãi đất hoang, những đường hầm hào sụt lở biến dạng, qua nhiều đợt phục hồi, tôn tạo các nhà, lán, hầm hào tại các địa điểm di tích quan trọng nhất là nơi ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo, các cơ quan đầu não Trung ương trong kháng chiến chống Pháp ở ATK Định Hóa như Khau Tý (Điềm Mặc), Khuôn Tát, Tỉn Keo, Nà mòn, Nà Lọm, Thẩm Khen… (Phú Đình) đã được phục hồi bằng những chất liệu mới bền vững (compozit) trên nền đất cũ, gần giữ về hình thức, cấu trúc, kích thước của những công trình thời kháng chiến. Chất lượng các di tích được phục hồi, cơ bản đã đạt được những quy định của nhà nước. Lán ở, làm việc của Bác ở Khuôn Tát trên đồi Nà Đình (gọi là lán Khuôn Tát) và Nhà họp Bộ Chính trị (6/12/1953) quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ do Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng lịch sử Quốc gia Việt Nam) phục chế trong những năm 2003 – 2004, vẫn được coi là mẫu mực cho việc phục hồi, tôn tạo các di tích ở ATK Định Hóa.

Tuy nhiên công tác bảo tồn, tôn tạo di tích ở ATK Định Hóa cũng không tránh khỏi những vấn đề cần phải được cân nhắc, rút kinh nghiệm. Đó là việc tôn tạo di tích đồi Tỉn Keo trong những năm 90 thế kỷ XX bằng cách lắp đặt đá phiến tấm lớn làm bậc lên thẳng lán họp Bộ Chính trị và xây lắp tứ trụ sừng sững ngay chân di tích. Dù toàn bộ các công trình này đã bị dỡ bỏ từ lâu, nhưng cũng cần nhớ lại để làm bài học phải nhớ. Di tích đồi Pụ Đồn, xóm Nà Lọm, xã Phú Đình (còn được gọi là di tích Nà Lọm) – nơi đặt trại thiếu nhi Bác Hồ (gọi là trại thiếu nhi Nà Lọm), tháng 5/1948 Bác đã ở, làm việc tại đây. Ngày 28/5/1948, tại Nà Lọm, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ trì Lễ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp – Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam. Việc đầu tư tôn tạo di tích rất quan trọng này là việc tất yếu. Vấn đề là tôn tạo thế nào để vừa khắc ghi được sự kiện lịch sử rất quan trọng gắn với hai bậc vĩ nhân Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, vừa giữ được những yếu tố gốc của di tích, không phá hủy cảnh quan di tích. Theo cá nhân tôi, việc bạt hẳn một phần quả đồi để xây dựng vào đó một công trình xi măng cốt thép cỡ lớn, là chưa thỏa đáng. Bây giờ tới đây, mọi người thấy đập ngay vào mắt là một công trình bê tông cốt thép bề thế và mấy vạt ta luy dựng đứng, thì dễ gì mường tượng cái không gian nơi Bác ở, làm việc và chủ trì Lễ phong quân hàm Đại tướng cho Bác Giáp trong căn nhà sàn bên con suối Nà Lọm, xung quanh là tán cây rừng, những bụi vầu, tán cọ. Phải chăng vẫn có một giải pháp phù hợp hơn, một cách ứng xử thỏa đáng  hơn đối với di tích này.

2.     Về việc xếp hạng di tích.

Khu di tích ATK Định Hóa đã được Chính phủ quyết định xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 548/ QĐ- TTg, ngày 10/5/2012. Trong tổng số 13 di tích thuộc khu di tích Quốc gia đặc biệt này, có 4 di tích: Khau Tý, Khuôn Tát, Tỉn Keo, Nà Mòn là nơi ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 9 di tích còn lại nơi đặt trụ sở, nơi thành lập của một số cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và Nhà tù Chợ Chu.

Một điều rất đáng quan tâm là còn một số điểm di tích rất quan trọng nằm không xa (1,5 đến 2,5km) di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nà Mòn, Tỉn Keo lại chưa được đưa vào danh mục di tích Quốc gia đặc biệt (thuộc khu di tích Quốc gia đặc biệt). Đó là di tích Nà Mòn (xã Phú Đình) – nơi ở, làm việc của Tổng bí thư Trường Chinh và Văn phòng Trung ương Đảng từ năm 1948 đến 1954. Đây là nơi Bác cùng các đồng chí Thường vụ Trung ương Đảng (từ 1951 là ủy viên Bộ Chính trị) thường qua lại họp bàn việc nước; nơi chuẩn bị nhân sự và dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951). Đó là di tích Thẩm Khen (xã Phú Đình) – một trong hai nơi ở, làm việc của phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng và một bộ phận cơ quan Văn phòng Chính phủ từ 1949 đến 1954; từ đây đồng chí Phạm Văn Đồng lên đường đi dự Hội nghị Giơ ne vơ và sau khi Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết đã trở về đây báo cáo kết quả với Trung ương.

Đó còn là di tích Làng Luông (xã Bình Thành) – nơi thành lập Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc ( nay là Học viện Chính trị – Hành Chính Quốc gia Hồ Chí Minh); nơi Bác đã đến thăm, nói chuyện với cán bộ, giáo viên, học viên nhà trường và trên đất ATK Định Hóa còn một số điểm di tích nguyên là nơi đặt tổng hành dinh và hành dinh các cơ quan đầu não ( các cơ quan chiến lược) của quân đội ta gần như suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Phải kể đến di tích Hội trường Tổng Quân ủy – Bộ Tổng tư lệnh ở Nạ Lẹng (xã Thanh Định), còn gọi là Hội trường Tám mái – nơi tổ chức nhiều hội nghị quan trọng của quân đội ta trong những năm 1947 – 1954; nơi đặt sa bàn Điện Biên Phủ để các lãnh đạo, chỉ huy quân đội nghiên cứu, bàn bạc, hoàn thiện các phương án tác chiến đánh tan tập đoàn cứ điểm kiên cố này. Di tích Khẩu Quắc (xã Thanh Đinh) với đường hầm xuyên núi hàng trăm mét và hệ thống địa đạo (hầm 5 cửa) – nơi làm việc của Bộ Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp những năm 1950 – 1954. Di tích Thẩm Quẩn (xã Thanh Định) – nơi đặt bản doanh của Tổng cục Cung cấp (sau là Tổng cục Hậu cần) do đồng chí Trần Đăng Ninh là Chủ nhiệm. Di tích nơi đặt bản doanh của Bộ Tổng tham mưu (1949 – 1953) do đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tổng tham mưu trưởng ở Đồng Đau (xã Định Biên). Di tích Hầm 5 cửa ở Thẩm Tắng (xã Định Biên) – nơi cơ quan Tổng cục Chính trị và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh làm việc trong những năm từ 1950 đến 1954…Rõ ràng, 8 di tích kể trên thực sự xứng đáng được đưa bổ sung vào danh mục di tích di tích Quốc gia đặc biệt thuộc khu di tích Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa. Hẳn là bà con các dân tộc nơi có những di tích kể trên và các cơ quan, đơn vị từng ra đời, từng đóng bản doanh ở 8 địa điểm đã nêu, đều rất mong chờ các di tích này được trở thành di tích quốc gia đặc biệt.

3.     Một số kiến nghị

3.1 Để khu di tích Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa xứng đáng với vai trò, vị trí, tầm vóc của nó trong lịch sử dân tộc thì việc quan trọng hàng đầu là khu di tích này cần phải được nhà nước tiếp tục đầu tư kinh phí cho công tác phục hồi, tôn tạo. Muốn vậy, tỉnh Thái Nguyên cần phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng các đề án, dự án trình Chính phủ phê duyệt, cho triển khai phục hồi, tôn tạo một số di tích đặc biệt quan trọng đến nay chưa được đầu tư tôn tạo; phục hồi bổ sung một số lán, hầm ở các di tích trung tâm như Tỉn Keo, Nà Mòn…

3.2 Việc phục hồi, tôn tạo, chống xuống cấp các di tích ở ATK Định Hóa cần triệt để tôn trọng các yếu tố gốc của di tích. Cần tránh đến mức tối đa việc bạt đồi, chặt phá cây cổ thụ, xây dựng các công trình bê tông cốt thép lớn gây phản cảm, phá hỏng cảnh quan di tích.

3.3 Đề nghị Ban Quản lý khu di tích Lịch sử – sinh thái ATK Định Hóa và cơ quan quản lý nhà nước về di tích của tỉnh tiếp tục nghiên cứu chuẩn bị hồ sơ trình cấp có thẩm quyền sớm bổ sung một số di tích có giá trị đặc biệt quan trọng vào danh mục di tích Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa. Cụ thể là các di tích: Nà Mòn, Thẩm Khen, Làng Luông, Nà Lẹng, Khẩu Quắc, Thẩm Quẩn, Đồng Đau, Thẩm Tắng.

3.4 ATK Định Hóa thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, là một vùng rừng núi ngút ngàn, hiểm trở. Nơi ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các cơ quan, đầu não đều ở rừng. Các bản làng của đồng bào Tày, Dao, San Chí cũng hầu hết ở bên các cánh rừng. Tiếc rằng ngày nay diện tích rừng (rừng nhiệt đới), trong vùng ATK xưa còn quá ít do bị chặt phá lấy gỗ, lấy đất trồng keo – bạch đàn, làm nương rẫy, trồng chè…Đường vào trung tâm ATK, nhiều nơi nhân dân bạt ta luy, san đồi làm nhà bê tông, nhà gạch tiến ra mặt đường buôn bán, làm dịch vụ. Vẫn biết rằng những việc làm ấy vì kế mưu sinh, trở thàn trào lưu, khó ránh khỏi xong nó khiến chúng ta không khỏi bâng khuâng. Người thời nay ngồi ôtô chạy vù vù qua một vùng cảnh quan quá đổi mới vào tận trung tâm “thủ đô kháng chiến” hỏi mấy ai có được cảm nhận, cảm xúc về những năm tháng “mưa rừng suối lũ” gian khổ hy sinh của Bác, của chính phủ kháng chiến, của cán bộ, bộ đội và đồng bào thời kháng chiến? đây cũng là điều rất đáng đặc biệt lưu tâm và cần phải có những quy hoạch, quy định, những chính sách cụ thể, phù hợp để vừa giữ gìn được di tích giữ được cảnh quan sinh thái trong vùng nhưng cũng được lòng dân, được dân ủng hộ, mang lại quyền lợi cho người dân, ít làm ảnh hưởng đến cuộc sống, mưu sinh của người dân trong vùng.

Về vấn đề RỪNG, xin có gợi ý nhỏ, là bên cạnh việc gìn giữ tốt số diện tích rừng còn lại, địa phương cần có biện pháp trồng mới các loại cây bản địa lấy gỗ, lấy quả, làm nguyên liệu thuốc như: Chò, lát, dẻ, de, sưa, sấu, tai chua, mít, quế, hồi, các loại tre, vầu…Trồng trên các diện tích đồi núi bỏ hoang, các diện tích rừng Pam đã thu hoạch. Như vậy, trong khoảng chừng 10 – 20 năm,sẽ có nhiều diện tích trở thành rừng, góp phần tạo diện mạo phù hợp hơn cho từng di tích, cho cả khu di tích.

Theo Nguyễn Thanh Bình Nguyên Trưởng phòng Nghiệp vụ Sở VHTTDL tỉnh Thái Nguyên